Thứ Tư, 22 tháng 10, 2014

Tác dụng y học của hồng sâm với sức khỏe con người

Tác dụng của Hồng Sâm với người cao huyết áp có hiệu quả  hay không? Đó là câu hỏi của rất nhiều người. Nhân Sâm là loại dược thảo quý có nhiều tác dụng bồi bổ, phục hồi sức khỏe nhưng tùy cách chế biến, cách sử dụng mà hiệu quả khác nhau. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chia sẻ về những tác dụng của Hồng Sâm với người cao huyết áp.
                                                                       Hồng sâm

Tác dụng của Nhân Sâm với người cao huyết áp

Theo quan niệm từ xưa, Nhân Sâm không được sử dụng với người bệnh cao huyết áp. Nếu người bị cao huyết áp khi dùng Nhân Sâm có thể làm nặng thêm triệu chứng đầu óc dễ váng, mắt mờ, mắt đỏ, tai ù, nôn nóng… do can dương lên cao, can hỏa viêm tất. Vì thế, người bị cao huyết áp không nên dùng Nhân Sâm.
Tuy nhiên đó là quan niệm về Nhân Sâm. Về loại Nhân Sâm chưa qua chế biến. Nhân Sâm tươi, chưa qua chế biến, có tính hàn nên có nhiều tác dụng phụ. Không phù hợp cho người cao huyết áp, người bị cảm mạo, phát sốt, người bị gan mật cấp tính, người bị viêm loét dạ dày… đều không dùng được Nhân Sâm
Nhân Sâm tươi chỉ có tác dụng nâng cao, bồi bổ sức khỏe chứ không có hiệu quả trong hỗ trợ điều trị bệnh. Thường Nhân Sâm, người ta đem ngâm rượu hoặc cắt lát tẩm mật ong. Tại Hàn Quốc, nhân sâm trồng từ 1-3 năm được bày bán ngoài chợ như các loại rau củ thông thường dùng để chế biến các món ăn bồi dưỡng sức khỏe.
                                                                         Hồng sâm


Theo lương y Vũ Quốc Trung, Hồng Sâm là Nhân Sâm đã qua chế biến có tính ôn, có thể bồi bổ dương khí ít tác dụng phụ, phù hợp với mọi đối tượng.

Theo Y Học Phương Tây, tác dụng của Hồng Sâm với người bệnh cao Huyết áp cũng có nhiều tranh cãi. Để làm sáng tỏ vấn đề này, nhiều nhà nghiên cứu đã có hàng loạt những bài nghiên cứu về tác dụng của Hồng Sâm với người bệnh Huyết áp.

Tại Hàn Quốc, 34 người bị cao huyết áp và có huyết áp tăng nhẹ tham gia thử nghiệm với Hồng Sâm được đối chứng với giả dược. Mỗi ngày, mỗi người dùng 3 lần, mỗi lần 1,5g Hồng Sâm. Các điều tra viên sẽ theo dõi chỉ số huyết áp (ABMP) mỗi lần sau 24h.

Hiện tại, HATC đang là nhà phân phối sản phẩm Hồng Sâm cho người cao huyết áp

Thứ Năm, 18 tháng 9, 2014

Nhiều giải pháp quyết liệt nâng cao y đức, chất lượng khám chữa bệnh


Nhiều giải pháp quyết liệt nâng cao y đức, chất lượng khám chữa bệnh


Giải pháp nào để nâng cao y đức của cán bộ y tế; nâng cao chất lượng y tế cơ sở và giảm tải cho các bệnh viện tuyến trên; công tác đảm bảo ATVSTP; hiệu quả của Đường dây nóng y tế; hạn chế tai biến y khoa… là những vấn đề được các đại biểu quốc hội đặt rađối với Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến trong phiên chất vấn và trả lời chất vấn tại phiên họp thứ 26 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội chiều ngày 1/4.

Nâng cao y đức: làm nghiêm để tăng sự hài lòng của người dân

Trả lời câu hỏi của đại biểu (ĐB) Phạm Xuân Thăng (Hải Dương) về việc ngành y tế sẽ tiếp tục có những giải pháp gì về vấn đề nâng cao y đức? Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến cho biết, vấn đề y đức luôn nóng bỏng và nhận được sự quan tâm của dư luận. Ngay từ thời mới hình thành nghề y, đã có lời thề về y đức, tuy nhiên, trong thời gian qua, vẫn còn một số ít cán bộ y tế không giữ vững được phẩm chất đạo đức của người thầy thuốc, vi phạm quy chế chuyên môn, quy tắc ứng xử, có thái độ không đúng mực, gây phiền hà cho người bệnh, gây bức xúc trong xã hội. Để hạn chế tình trạng này, Bộ Y tế đã triển khai quyết liệt và đồng bộ nhiều giải pháp như: ban hành nhiều văn bản liên quan đến vấn đề này, đặc biệt, lần đầu tiên một Thông tư liên quan đến vấn đề ứng xử của cán bộ y tế đã được ban hành nhằm tạo nên hành lang pháp lý để có chế tài khen thưởng, xử phạt rõ những cán bộ y tế sai phạm. Bên cạnh đó, Bộ Y tế cũng đã tổ chức 11 lớp tập huấn về quy cách ứng xử trong ngành y tế với gần 6.000 cán bộ y tế theo học...

Liên quan đến nội dung này, ĐB Trương Văn Vở (Đồng Nai), ĐB Nguyễn Văn Bình (Hải Phòng) đã đặt câu hỏi về hiệu quả của đường dây nóng (ĐDN) y tế như thế nào? Bộ trưởng cho biết, sau 6 tháng triển khai thực hiện ĐDN y tế, đã có 6.700 cuộc gọi đến ĐDN, trong đó có hơn 2.000 cuộc gọi đúng về nội dung tiếp nhận của ĐDN. Trong số đó, có 40% cuộc gọi liên quan đến thái độ của cán bộ y tế, 12% cuộc gọi liên quan đến vấn đề viện phí, 22% cuộc gọi phàn nàn về việc làm sai quy định về quy trình, quy định tại BV và 25% cuộc gọi phàn nàn về cơ sở vật chất... Bên cạnh đó, cũng đã có rất nhiều thư khen ngợi các thầy thuốc gửi đến báo Sức khỏe&Đời sống. Qua các kênh thông tin này, Bộ Y tế cũng như Sở Y tế các địa phương đã tìm hiểu, xác minh. Đối với những cá nhân, đơn vị xuất sắc, chúng tôi đã kịp thời khen thưởng để động viên các thầy thuốc. Đối với các trường hợp sai phạm về y đức, thái độ ứng xử với người bệnh, người nhà bệnh nhân..., chúng tôi đã có nhiều hình thức xử lý nghiêm như phê bình, cảnh cáo trong giao ban toàn BV, luân chuyển vị trí công tác, cắt thi đua...

Đồng bộ các giải pháp để nâng cao chất lượng y tế cơ sở

Theo một số đại biểu, ngành y tế chưa giải quyết căn cơ việc bệnh nhân vượt tuyến và đặt vấn đề khi nào Bộ Y tế giải quyết được tình trạng này, Bộ trưởng Bộ Y tế cho biết, giảm tải BV tuyến trên, nâng cao chất lượng y tế cơ sở là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành y tế. Tuy nhiên, Bộ trưởng cho rằng, hiện nay, không chỉ Việt Nam mà nhiều nước đều không có bác sĩ làm tuyến xã. Để giải quyết được vấn đề này thì điều quan trọng là kỹ thuật cao phải được thực hiện tại tuyến cơ sở. Vì vậy, Bộ Y tế đã triển khai các Đề án để nâng cao chất lượng y tế tuyến cơ sở như đề án BV vệ tinh; Đề án 1816; Đề án đưa bác sĩ trẻ có trình độ chuyên môn về công tác tại các huyện nghèo... Bên cạnh đó, Bộ Y tế hiện đang phối hợp với Bộ Tài chính để có cơ chế tài chính phù hợp nhằm thực hiện việc hàng năm luân phiên bác sĩ tuyến trên về tuyến dưới để tuyến dưới luôn luôn có bác sĩ tuyến trên về công tác. “Tất cả các giải pháp này nhằm làm cho chất lượng y tế cơ sở nâng lên, góp phần giảm tải cho tuyến trên”, Bộ trưởng nhấn mạnh.

Trả lời chất vấn về việc cấp phép và quản lý các cơ sở y tế tư nhân của ĐB Trương Văn Vở (Đồng Nai), ĐB Lê Đắc Lâm (Bình Thuận), Bộ trưởng nói: Một trong những nguyên nhân dẫn đến nhiều cơ sở y tế hoạt động không phép là có những thủ tục rất khó thực hiện và phải chờ đợi lâu, như lý lịch tư pháp... Bộ Y tế và Bộ Tư pháp đã thống nhất giải pháp tháo gỡ cho cơ sở y tế tư nhân được hoạt động trước khi được cấp những thủ tục vừa nêu. Còn việc quản lý các cơ sở y tế tư nhân, Bộ đã phân cấp rõ, chủ yếu là do Sở Y tế các tỉnh, thành cấp phép và quản lý.

Không có việc thuốc kém chất lượng vào BV

Trước câu hỏi của ĐB Hà Thị Lan (Bắc Giang) về vấn đề giải pháp của Bộ Y tế để “kéo” giá thuốc xuống và liệu có tình trạng thuốc kém chất lượng vào BV? Bộ trưởng khẳng định: Theo số liệu của Tổng cục Thống kê - Bộ Kế hoạch Đầu tư, năm 2013, mức độ tăng giá nhóm hàng dược phẩm là 3,45%, thấp hơn mức độ tăng giá của CPI (6,04%) và đứng thứ 9/11 nhóm hàng trọng yếu. Chỉ số giá dược phẩm 3 tháng đầu năm 2014 là 0,6% so với chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là 0,8% sẽ dự báo chỉ số giá nhóm hàng dược phẩm, y tế trong năm 2014 thấp hơn chỉ số giá tiêu dùng.

Liên quan đến vấn đề đấu thầu thuốc theo các thông tư mới, theo Bộ trưởng thì hiệu quả kinh tế của các gói thầu thuốc do ngân sách nhà nước, BHYT chi trả đã được cải thiện rõ ràng. Phân tích kết quả trúng thầu của 7 Sở Y tế đã thực hiện đấu thầu theo quy định mới và báo cáo về Bộ Y tế cho thấy, so sánh trị giá tiền mua thuốc theo giá thuốc trúng thầu năm 2013 của 20 mặt hàng có tỉ trọng sử dụng cao trong đấu thầu thuốc tại các cơ sở y tế (chiếm khoảng 30% trị giá thuốc trúng thầu tại các BV) với việc mua sắm các mặt hàng này năm 2012 cho thấy số tiền tiết kiệm được là 115,49 tỉ đồng. Đồng thời, việc đấu thầu theo các hướng dẫn mới làm tăng tỷ trọng thuốc sản xuất trong nước đáng kể về cả số lượng và giá trị vào các BV. Bộ trưởng cũng nhấn mạnh, đối với các ý kiến cho rằng thuốc trúng thầu theo quy định mới có chất lượng không đảm bảo là hoàn toàn không có cơ sở vì các thuốc trước khi lưu hành vào Việt Nam phải qua thẩm định chặt chẽ mới được cấp phép lưu hành. Do đó, không có chuyện thuốc kém chất lượng được đấu thầu vào BV.

Về công tác VSATTP, trả lời băn khoăn của một số ĐB đưa ra về vấn đề ngộ độc thực phẩm gây nguy cơ ung thư, Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến cho rằng ngộ độc thực phẩm có nhiều nguyên nhân. Tuy nhiên, chúng ta không nên quá hoang mang vì thông tin thực phẩm gây ung thư. Hiện nay, ung thư có nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra: do môi trường sống, do di truyền và biến đổi gen... Thực phẩm cũng là một yếu tố nếu có nấm mốc. Tuy nhiên, coi ngộ độc thực phẩm là nguyên nhân gây ung thư là không có căn cứ.


Chia sẻ bởi
CSKH WLike 0916183300 - 0984236411
Thiết kế website bởi Wlike.vn

Y đức, y đạo và mối quan hệ thầy thuốc, bệnh nhân


Y đức, y đạo và mối quan hệ thầy thuốc, bệnh nhân



Trong mấy năm gần đây, từ khi nước ta chuyển từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, nhiều giá trị xã hội bị thay đổi. Đối với ngành y, bên cạnh một số thành tích rất đáng tự hào, có nơi, có lúc người ta còn kêu ca phàn nàn rằng tinh thần thái độ phục vụ bệnh nhân sa sút, y đức bị xói mòn, y đạo không được tôn trọng. Vậy y đức là gì? Y đạo là gì? Nội dung của y đức ra sao? Những nguyên nhân gì đã tác động đến y đức? và điều quan trọng hơn là làm thế nào để nâng cao được y đức trong ngành Y tế? Đó là những vấn đề nóng bỏng của xã hội ngày nay, và cũng là vấn đề mà người viết bài này muốn đề cập.


Trước hết chúng ta hãy xem xét y đức là gì, y đạo là gì?

Trong xã hội loài người, ngành nghề nào cũng đòi hỏi phải có đạo đức mà người ta thường gọi là "đạo đức nghề nghiệp". Ngành y là một ngành có liên quan trực tiếp đến sức khoẻ và tính mạng của con người. Mà sức khoẻ, tính mạng của con người là vốn quý nhất, nên đòi hỏi người làm việc trong ngành y cũng phải có những phẩm chất đặc biệt. Không phải ai cũng đủ tiêu chuẩn làm việc trong ngành y.

Theo các nhà xã hội học, "Đạo đức là những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội". Như vậy, đạo đức của ngành Y, hay nói cách khác, Y đức, là những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi và mối quan hệ giữa thầy thuốc với bệnh nhân và với đồng nghiệp.

Nhưng vì tính mạng, sức khoẻ của con người là quý giá nhất, nên chỉ dựa vào dư luận xã hội, nghĩa là chỉ có Y đức thôi chưa đủ, mà mỗi Nhà nước, tuỳ theo hoàn cảnh cụ thể và phong tục tập quán của đất nước, dân tộc mình, đều đưa một số điểm quan trọng của Y đức vào luật và các văn bản dưới luật, quy định bắt buộc cả thầy thuốc và bệnh nhân phải tuân thủ, người ta gọi đó là Y đạo. Như vậy, Y đạo là y đức đã được thể chế hoá thành các quy định, bắt buộc mọi người phải tuân thủ. Nói cách khác, y đạo là con đường của ngành y, là hành lang pháp lý mà người hành nghề y phải tuân thủ.

Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân của Việt Nam đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 30-6-1989, đó là cơ sở pháp lý cao nhất về y đạo.

Hội đồng Bộ trưởng đã có Nghị định số 23/HĐBT ngày 24-1-1991 ban hành 5 điều lệ, đó là: Điều lệ Vệ sinh, Điều lệ khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền dân tộc, Điều lệ thuốc phòng, chữa bệnh, Điều lệ khám bệnh, chữa bệnh và phục hồi chức năng và Điều lệ thanh tra nhà nước về Y tế. Trong nền kinh tế thị trường, việc hành nghề y được tư nhân là tất yếu. Ngày 13-10-1993, Chủ tịch nước Lê Đức Anh đã ký Lệnh số 26 ban hành Pháp lệnh về hành nghề y dược tư nhân. Đó cũng chính là y đạo.

Vậy, nội dung của y đức là gì?

Tuy y đạo của các nước, các thời đại có khác nhau, nhưng qua các lời thề và những lời di huấn từ xưa đến nay, phương Đông hay phương Tây, thì y đức đều có những điểm chung, đó là hành vi, thái độ của người thầy thuốc đối với bệnh nhân, là bổn phận, trách nhiệm của người thầy thuốc, là sự thông cảm đối với người bệnh. Ta có thể điểm qua các lời thề và lời di huấn của người xưa để hiểu về nội dung y đức.

Trên thế giới, nói đến ông tổ ngành Y phải nói đến Hypôcrat, một thầy thuốc danh tiếng thời Hy Lạp cổ đại, người sống cách chúng ta gần 2500năm, nhưng những tư tưởng, kiến thức của ông cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Đặc biệt ông đã dậy người làm ngành Y phải có Y đức, mà những lời dạy ấy, sau này những người nối nghiệp ông đã viết nên một lời thề nghề nghiệp mà tất cả những bác sĩ khi tốt nghiệp ra trường đều phải tuyên thệ, đó là "Lời thề Hypôcrat". Trong lời thề này có đoạn:

"Tôi xin thề sẽ trung thành với quy tắc danh dự và sẽ liêm khiết trong khi hành nghề bác sĩ. Tôi sẽ săn sóc miễn phí cho người nghèo, không bao giờ đòi hỏi một sự thù lao quá đáng so với công sức đã bỏ ra. Được mời đến gia đình, mắt tôi không để ý đến mọi sự xảy ra, miệng tôi sẽ giữ kín những bí mật mà người bệnh đã thổ lộ. Tôi sẽ không lợi dụng địa vị của mình để làm đồi bại phong tục hoặc tán dương tội ác. Một lòng tôn trọng và biết ơn các thầy, tôi sẽ truyền bá cho các con cháu các thầy những giáo huấn mà tôi đã lĩnh hội được. Nếu tôi giữ trọn lời thề, người đời sẽ quý mến; nếu tôi thất hứa, tôi sẽ mang mối ô danh và cam chịu sự khinh bỉ của các bạn đồng nghiệp và của nhân dân". Như vậy là đã hàng ngàn năm nay, dù trong chế độ xã hội nào thì nghề thầy thuốc cũng phải lấy đạo đức làm trọng.

Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, một danh y Việt Nam thời hậu Lê, trong tác phẩm sách thuốc đồ sộ của mình, ngay từ tập đầu tiên đã dạy y đức cho người thầy thuốc trước khi dạy họ làm thuốc. Cụ dạy: "Nếu nhà bệnh có mời, nên tùy bệnh nặng hay nhẹ mà đi xem, đừng thấy người phú quý mà đi trước, nhà nghèo khổ mà đi sau. Xem mạch cho đàn bà con gái, nhất là gái goá và ni cô, phải bảo một người đứng bên để tránh sự hiềm nghi. Đã là nhà làm thuốc phải để ý giúp người, không nên vắng nhà luôn, nhất là đi chơi. Chữa bệnh cho người nghèo và quan quả cô độc càng cần phải lưu ý, nhất là người con hiếu, vợ hiền hay nhà nghèo mà bệnh trọng thì ngoài việc cho thuốc, ta có thể trợ cấp thêm nếu họ không đủ ăn, như thế mới là nhân thuật. Khi bệnh nhân khỏi, chớ cầu trả lễ nhiều, nên để họ tự xử, vì làm thuốc là thuật thanh cao, thì người làm thuốc phải có tiết thanh cao. Tôi thường thấy các thầy thuốc tầm thường, hoặc nhân người bệnh ốm nặng, hoặc nhân lúc nguy cấp về đêm tối, mà bệnh dễ chữa bảo là khó, bệnh khó bảo là không chữa được; hay đối với người giàu sang quyền quý thì ân cần để tính lợi, với người nghèo túng thì lạnh nhạt coi thường, như vậy là bất lương, coi nghề làm thuốc cũng như nghề buôn bán là không được..." .

Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ kính yêu của nhân dân Việt Nam, Danh nhân văn hoá thế giới, trong bức thư gửi cho cán bộ ngành Y tế ngày 27-2-1955 có đoạn: "Người bệnh phó thác tính mạng của họ nơi các cô, các chú. Chính phủ phó thác cho các cô, các chú việc chữa bệnh tật, và giữ sức khoẻ của đồng bào. Đó là một nhiệm vụ rất vẻ vang. Vì vậy cán bộ cần phải thương yêu, phải săn sóc người bệnh như anh em ruột thịt của mình, coi họ đau đớn cũng như mình đau đớn. « Lương y phải như từ mẫu », câu nói ấy rấtđúng " .

Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, cố Bộ trưởng Bộ Y tế, nhân một chuyến lên thăm Bệnh viện và công nhân lâm trường Thác Bà, Yên Bái, đã căn dặn cán bộ y tế của Bệnh viện lâm trường khi tiếp đón, chăm sóc bệnh nhân, phải:

"Đến tiếp đón niềm nở,
Về dặn dò ân cần,
ở tận tình chăm sóc".

Chúng tôi nghĩ, đây cũng là lời của một người Bộ trưởng căn dặn cán bộ, viên chức của toàn ngành y tế nói chung chứ không chỉ riêng với cán bộ, viên chức của Bệnh viện Lâm trường Thác Bà, Yên Bái.


Và còn biết bao nhiêu những điều răn dạy của các bậc danh y, biết bao người đã toàn tâm toàn ý phục vụ người bệnh với cả cuộc đời mình. Không thiếu gì những người thầy thuốc đã lấy máu của mình để cho bệnh nhân khi cấp cứu, thậm chí có bác sĩ đã lấy cả "củ phong" chứa rất nhiều vi khuẩn phong (tức vi khuẩn gây bệnh hủi) nghiền nhỏ, tiêm vào cơ thể mình để chứng minh rằng phong là một bệnh khó lây v.v... Đó chính là Y đức.

Những nguyên nhân tác động đến y đức và biện pháp nâng cao đạo đức trong ngành Y tế


Theo chúng tôi, những nguyên nhân chính tác động đến y đức là cơ chế của dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, vai trò quản lý nhà nước về y tế, sự tăng trưởng kinh tế, mức sống của đội ngũ thầy thuốc, việc đào tạo thầy thuốc trong các trường Y, Dược, vai trò tự quản lý của hội nghề nghiệp và dư luận xã hội điều chỉnh hành vi của cả thầy thuốc lẫn bệnh nhân.

Về cơ chế của dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, tốt nhất là không nên để người thầy thuốc thu tiền trực tiếp từ bệnh nhân. Đành rằng trong cơ chế thị trường, dịch vụ khám chữa bệnh cũng như các dịch vụ khác, nghĩa là cũng có "kẻ bán, người mua", nhưng sự mua bán này nên gián tiếp mà không nên trực tiếp, thí dụ bệnh viện không nên thu viện phí của bệnh nhân mà bệnh nhân nên mua bảo hiểm y tế, bệnh viện nhận kinh phí từ Công ty bảo hiểm y tế chuyển sang. Những dịch vụ công cộng thì Nhà nước phải chi trả ngành y tế. Nghĩa là không nên đặt đồng tiền xen vào giữa mối quan hệ thầy thuốc - bệnh nhân. Hiện tượng phí ngầm là rất phổ biến trong các cơ sở y tế hiện nay, nhiều khi chi phí này cao hơn rất nhiều lần viện phí. Chính phí ngầm này là làm xói mòn đạo đức của ngành Y.

Sự tăng trưởng kinh tế và mức sống của đội ngũ thầy thuốc cũng có vai trò quan trọng trong y đức, vì khi kinh tế càng cao, đời sống của cán bộ y tế đã được nâng lên thì y đức cũng được nâng lên theo. Tất nhiên, không phải ở đâu và bao giờ y đức cũng luôn luôn tỷ lệ thuận với sự tăng trưởng kinh tế và mức sống của cán bộ y tế. Nhiều khi sự tăng trưởng kinh tế lại tỷ lệ nghịch với y đức. Bởi vì mức sống cao thì nhu cầu cũng cao, giá cả nhiều loại cũng tăng tỉ lệ thuận với sự tăng trưởng kinh tế. Ngày xưa đi dự đám cưới, người ta tặng nhau quyển sách, chiếc phích hay cái soong, cái nồi đã là sang, nay thì không còn như vậy nữa. Hay ngày xưa, con cái đi học, làm gì có chuyện phải học thêm. Chiếc vé xem phim ngày xưa chi có một hào của người lớn, năm xu của trẻ em, nhưng ngày nay đã là 50.000đ. Nhưng gía dịch vụ y tế thì không thể tăng lên hơn nữa. Bởi vì phần lớn người bị bệnh là người nghèo, vi người nghèo mới hay mắc bệnh và thường là bệnh trọng. Gía trị của dịch vụ y tế chênh lệch với gía cả do Nhà nước quy định về chăm sóc y tế cũng là một nguyên nhân gây nên phí ngầm.

Bác sĩ là một nghề được đào tạo lâu nhất, cẩn thận nhất, khó khăn, phức tạp nhất trong các ngành nghề đào tạo. Người bác sĩ phải học 6 năm, trong thời gian học lại phải thực tập ở phòng thí nghiệm, mổ xác, thực tập tại bệnh viện cũng bằng ấy thời gian, nhưng khi mới ra trường, cũng chỉ là "cô bác sĩ trẻ", chưa được nhân dân tin tưởng.

"Thầy già, con hát trẻ" mà. Đã thế, lương của bác sĩ học 6 năm còn thua lương một kỹ sư học 4 năm[6]. Ở các nước phát triển, lương Bác sĩ và Luật sư là những loại lương cao nhất. Đãi ngộ không tương xứng cũng là một trong các nguyên nhân gây y đức xuống cấp.

Ngoài các yếu tố trên đây còn đòi hỏi Nhà nước phải tăng cường vai trò quản lý của mình bằng luật và các văn bản dưới luật, tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát, kịp thời động viên, khuyến khích người làm tốt, xử phạt thích đáng những người vi phạm. Những việc hành nghề quá quyền hạn, quảng cáo sai sự thật, bán thuốc giả, bác sĩ thì vừa khám bệnh vừa bán thuốc, dược sĩ thì bán thuốc không cần đơn,... cần phải được ngăn chặn kịp thời.

Cũng như trên kia chúng tôi đã đề cập, nghề Y là một nghề đặc biệt, vì vậy không phải ai cũng có thể trở thành thầy thuốc được. Điều này cần phải xem xét ngay từ khâu tuyển sinh. Nghề y là nghề nhân đạo, vì vậy nó đối lập với kinh doanh. Những ai có mục đích sẽ kiếm tiền bằng nghề y thì tốt nhất là không nên tuyển họ vào trường. Và trong 6 năm trong trường đại học hay 3 năm trong trường trung học y, nhà trường đủ thời gian để đưa ra khỏi ngành những người thầy thuốc tương lai thiếu đạo đức. Vấn đề là ta có đặt ra không và tiêu chuẩn của người thầy thuốc là gì.

Khi đã ra trường rồi người thầy thuốc cần được hoạt động trong một hội nghề nghiệp để luôn luôn được sự giám sát của những người đồng nghiệp. Tổng hội Y Dược học Việt Nam và các Hội thành viên cần được trao cho quyền hạn hơn nữa và Hội cũng cần phải vươn lên hơn nữa để đảm bảo chức năng tự quản nghề nghiệp các hội viên của mình. Nếu người thầy thuốc vi phạm y đạo thì các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cần xử lý nghiêm khắc. Còn khi một người thầy thuốc vi phạm y đức thì trước hết họ phải được xử lý trong hội nghề nghiệp của mình. Tự quản là một hình thức rất hữu hiệu để giữ gìn y đức trong ngành y tế.

Cuối cùng là vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng, nghĩa là của dư luận xã hội, trong việc điều chỉnh hành vi của người thầy thuốc. Theo chúng tôi, vai trò của báo chí rất quan trọng. Nhưng báo chí không chỉ nêu hiện tượng, sự việc, mà điều quan trọng hơn là nên phán xét.

Nghĩa là báo chí cần biểu dương, động viên kịp thời những việc làm tốt, phê phán những việc làm sai trái của cả thầy thuốc lẫn bệnh nhân. Mục đích là để điều chỉnh hành vi và thái độ ứng xử của cả thầy thuốc lẫn bệnh nhân theo những chuẩn mực mà xã hội đã thừa nhận.

Tóm lại, y đức, y đạo đang là vấn đề nóng bỏng của xã hội, nhất là trong nền kinh tế thị trường hiện nay. Xã hội đòi hỏi người thầy thuốc phải có những phẩm chất đặc biệt. Để nâng cao y đức, chúng ta không thể hô hào chung chung mà phải xem xét nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái về y đức và đề ra các biện pháp khắc phục ngay từ khi tuyển chọn cán bộ vào ngành. Cần kết hợp giữa việc quản lý nhà nước và tự quản trong hội nghề nghiệp. Mặt khác, mỗi người cán bộ y tế cũng phải tự trau dồi đạo đức của mình để xứng đáng với danh hiệu cao quý mà Bác Hồ đã dạy: Thầy thuốc như mẹ hiền./.

BS Nguyễn Đức Kiệt


Chia sẻ bởi
CSKH WLike 0916183300 - 0984236411
Thiết kế website bởi Wlike.vn

“Phong bì” và quyền của bệnh nhân


“Phong bì” và quyền của bệnh nhân

Thông thường, những dịp kỷ niệm ngành nghề, người ta thường ôn lại những thành tựu chuyên môn qua nghiên cứu khoa học và đóng góp cho cộng đồng. Thế nhưng, ngày Thầy thuốc Việt Nam (27-2) lại là ngày người ta suy nghĩ nhiều nhất về vấn đề rất cơ bản: Y đức
Hai vấn đề liên quan đến y đức mà công chúng đang quan tâm hiện nay là vấn nạn “phong bì” và quyền của bệnh nhân.


“Phong bì”, quà và hối lộ

Đưa “phong bì” cho nhân viên y tế là đề tài gây nhiều tranh cãi. Có người cho rằng nạn phong bì chỉ là “con sâu làm rầu nồi canh” nhưng trong thực tế thì không phải chỉ là vài con sâu mà rất phổ biến đến nỗi người ta xem đó là điều bình thường. Theo một nghiên cứu tại TPHCM mới công bố năm qua, có đến 76% bệnh nhân được hỏi cho biết đã từng đưa phong bì cho nhân viên y tế. Một nghiên cứu trước đó ở Hà Nội cũng cho thấy khoảng 70% bệnh nhân đưa phong bì.Ở nước ngoài, bệnh nhân cho quà bác sĩ (BS) cũng khá phổ biến. Trong một cuộc điều tra ngẫu nhiên trên 378 BS ở Anh, có đến 20% cho biết họ từng nhận quà từ bệnh nhân trước đó 3 tháng. Giá trị trung bình của món quà là 15 USD. Quà thông thường nhất là rượu, kế đến là chocolate và tiền mặt.

Tặng BS một món quà nhỏ, thậm chí tiền, có vi phạm y đức hay không còn tùy thuộc vào động cơ của bệnh nhân và người nhận. Cho quà để cám ơn có lẽ không có vấn đề y đức nhưng cho quà với động cơ tác động đến nhân viên y tế để được đặc lợi là một hình thức hối lộ và BS nhận quà trong trường hợp này là tham nhũng, thể hiện sự vi phạm đạo đức nghề nghiệp. BS có nghĩa vụ phải trung thành với bệnh nhân. Làm lời từ việc điều trị bệnh nhân là một cách vi phạm lòng trung thành đó. Nhận quà cũng làm xói mòn mối liên hệ đặc biệt mang tính đạo lý giữa BS và bệnh nhân.Thật vậy, trong nghiên cứu vừa đề cập trên, khi được hỏi tại sao đưa phong bì, 65% bệnh nhân cho biết vì muốn được ưu tiên, được giải quyết nhanh hơn và trong trường hợp y tá, bệnh nhân tin rằng đưa tiền là một cách mua được sự nhẹ nhàng trong tiêm chích thuốc!

Ảnh hưởng đến kinh tế

Nhưng ngay cả người giàu có cũng không mặn mà với hệ thống y tế hiện nay. Số liệu báo cáo trong một hội thảo gần đây cho thấy mỗi năm có đến 40.000 người ra nước ngoài điều trị và họ đã phải chi khoảng 2 tỉ USD (40.000 tỉ đồng) ở nước ngoài. Đó là số tiền rất lớn. Giới chức y tế trong nước khẳng định rằng các bệnh viện Việt Nam có đủ thiết bị và bác sĩ thừa trình độ chuyên môn để điều trị mà bệnh nhân không cần ra nước ngoài. Thế nhưng, bất chấp những thành tựu tuyệt vời đó, bệnh nhân có điều kiện kinh tế vẫn tìm cách ra nước ngoài điều trị.

Khi được hỏi lý do ra nước ngoài điều trị, những bệnh nhân này cho biết họ thấy bác sĩ ngoại quốc tốt hơn về nhân cách so với BS Việt Nam, những người mà họ nghĩ rằng có vấn đề về y đức. Ngoài ra, các bệnh nhân giàu có này còn nói rằng họ không ấn tượng với môi trường bệnh viện Việt Nam (dơ bẩn, chật chội, nguy hiểm) và thích môi trường bệnh viện sạch sẽ ở nước ngoài. Nói cách khác, họ sẵn sàng chi thêm tiền chưa chắc để mua kỹ năng nhưng để mua thái độ và y đức, để được đối xử tốt hơn và để mua môi trường sạch sẽ. Có thể nói rằng vấn đề y đức đã ảnh hưởng đến kinh tế Việt Nam.

Tình trạng còn nghiêm trọng hơn vì vấn nạn phong bì không hẳn chỉ do bệnh nhân “làm hư” BS mà chính do BS chủ động. Năm 2011, kết quả khảo sát trên 6.000 độc giả của báo điện tử Dân Trí cho thấy có gần 3/4 bệnh nhân đưa phong bì do BS hoặc y tá gợi ý.

Vấn đề hệ thống
Những sự thật trên đây có thể là chứng cứ cho thấy nhân viên vi phạm y đức là xuất phát từ khiếm khuyết của hệ thống y tế. Tuy có nhiều yếu tố dẫn đến vi phạm y đức nhưng trong tình huống Việt Nam, 2 yếu tố quan trọng nhất dẫn đến thái độ phục vụ của nhân viên y tế chưa đạt là vấn đề quá tải bệnh viện và lương bổng.

Việt Nam hiện có khoảng 1.200 bệnh viện với khoảng 185.000 giường bệnh. Trong số này, bệnh viện tuyến huyện chiếm đa số (gần 50%) nhưng số giường bệnh tuyến huyện chỉ chiếm 31% tổng số. Gần 1/3 bệnh viện là tuyến tỉnh nhưng số giường bệnh chiếm 50% tổng số. Tuy chỉ có 39 bệnh viện cấp trung ương (chiếm 3% tổng số bệnh viện) nhưng số giường của các bệnh viện này chiếm 11% tổng số giường bệnh toàn quốc. Những con số trên đây cho thấy hệ thống điều trị chủ yếu tập trung vào một số bệnh viện cấp trung ương và tỉnh, trong khi đó cấp cơ sở (huyện) thì thấp.

Do đó, không ngạc nhiên khi thấy tất cả bệnh viện tuyến trung ương và tuyến tỉnh đều quá tải. Những bệnh viện lớn như Chợ Rẫy và Bạch Mai, số bệnh nhân lúc nào cũng cao hơn số giường từ 50% - 70%. Riêng Bệnh viện K, số bệnh nhân cao hơn số giường gấp 2,5 lần! Ngay cả các bệnh viện tuyến tỉnh cũng quá tải 15%. Xu hướng này càng ngày càng gia tăng chứ không giảm.

Trong điều kiện quá tải như thế, thời gian tiếp xúc giữa nhân viên y tế và bệnh nhân rất ngắn. Tuy chưa có nghiên cứu nghiêm chỉnh nhưng thời gian BS tư vấn cho bệnh nhân chỉ khoảng 2-5 phút. Có không ít trường hợp BS chẳng cần nói hay khám bệnh nhân mà chỉ nhìn và ra toa thuốc. Cần nói thêm rằng nghiên cứu ở nước ngoài (châu Âu và châu Úc) cho thấy thời gian BS tiếp xúc bệnh nhân là khoảng 10 phút cho mỗi bệnh nhân (dao động trong khoảng 3 - 30 phút). Thời gian tiếp xúc bệnh nhân có liên quan đến chất lượng phục vụ. Do vậy, không ngạc nhiên khi chất lượng phục vụ y tế ở Việt Nam chưa tốt. Trong môi trường mà BS phải khám cho cả trăm bệnh nhân với đủ loại bệnh và đủ thành phần thì rất khó đòi hỏi sự bình tĩnh của người thầy thuốc. Một BS tóm lược rằng ở các bệnh viện quá tải, BS chỉ có thì giờ điều trị bệnh, chứ không thể nào có thì giờ chữa trị người bệnh. Đó cũng chính là lý do người bệnh cảm thấy BS Việt Nam vô cảm và… khó ưa.

Bệnh viện tuyến huyện nói chung không có quá tải, một số thậm chí còn được sử dụng dưới công suất. Vấn đề chính ở đây là bệnh nhân không tin vào BS cấp huyện. Trong cái nhìn của phần lớn bệnh nhân, BS tuyến huyện không có kỹ năng và kinh nghiệm cao như BS cấp trung ương hay cấp tỉnh. Tuy chưa có nghiên cứu nào cho thấy niềm tin này là đúng nhưng những tai biến y khoa xảy ra gần đây ở một số bệnh viện tuyến huyện đã minh chứng điều đó.

Về phía bệnh nhân, trong môi trường quá tải và đông đúc, họ phải tìm cách để được ưu tiên. Cho quà và tiền để gây ảnh hưởng là thiết thực nhất. Gây ảnh hưởng ở đây bao gồm được ưu tiên điều trị (không xếp hàng), được hưởng đặc lợi (như nằm phòng đặc biệt)... Về phía BS, họ cũng có động cơ nhận tiền, vì đồng lương quá thấp. Họ là những học sinh tinh hoa nhất, học hành lâu nhất và gian nan nhất (so với các ngành khác) nhưng khi tốt nghiệp, họ hưởng đồng lương chỉ khoảng 100-150 USD/tháng, tức không khác mấy với lương của một công nhân. Trong bối cảnh đó, cám dỗ của đồng tiền rất lớn mà không phải ai cũng có khả năng đề kháng. Dĩ nhiên, đồng lương thấp và quá tải không phải là một biện minh cho vi phạm y đức nhưng đó là môi trường làm cho người ta vi phạm.

Y đức không phải luật pháp mà là quy ước. Nhưng đó là chuẩn mực đạo đức và điều lệ về hành nghề, được các thành viên trong ngành chấp nhận như là những kim chỉ nam cho việc hành nghề. Y đức, do đó là một luật luân lý về hành vi của con người liên quan đến những gì được xem là tốt và đúng, so với những gì được xem là xấu và sai. Để xác định được một hành động hay quyết định là tốt hay xấu, người quyết định phải so sánh những lựa chọn của họ với những tiêu chuẩn mà xã hội chấp nhận. Nếu trong một xã hội mà mọi người (hay đa số) chấp nhận việc hối lộ cho nhân viên y tế là một hành vi bình thường thì đó cũng chính là một tín hiệu cho thấy đạo đức xã hội đang xuống cấp và mất niềm tin giữa người với người.

Y đức

Y đức hay đạo đức nghề y có lẽ chẳng xa lạ gì với người Việt và các nước chịu ảnh hưởng của Nho giáo. Hải Thượng Lãn Ông (Lê Hữu Trác), một danh y của Việt Nam thời giữa và cuối thế kỷ XVIII, từng nói đến những điều ông gọi là “Y huấn cách ngôn”, có thể hiểu và xem như là những điều lệ về y đức ngày nay. Trong “Y huấn cách ngôn”, ông dạy người thầy thuốc phải: Am hiểu đạo Nho, không được phân biệt bệnh nhân giàu hay nghèo, cẩn thận với khám phụ nữ, lấy việc giúp người là chính chứ không màng đến phú quý giàu sang, nên đặc biệt quan tâm đến bệnh nhân nghèo, phải khiêm tốn và tôn trọng đồng nghiệp.
Một điều quan trọng là ông khuyên: “Khi chữa cho ai khỏi bệnh rồi, chớ có mưu cầu quà cáp vì những người nhận của người khác cho thường hay sinh ra nể nang, huống chi đối với những kẻ giàu sang, tính khí bất thường mà mình cầu cạnh, thường hay bị khinh rẻ”.


Chia sẻ bởi
CSKH WLike 0916183300 - 0984236411
Thiết kế website bởi Wlike.vn

Quán triệt giáo dục y đức để “làm đẹp” bộ mặt ngành y


Quán triệt giáo dục y đức để “làm đẹp” bộ mặt ngành y


Thái độ ứng xử thiếu tế nhị, thủ tục khám chữa bệnh rườm rà; quản lý hành nghề y chưa chặt chẽ, tình trạng quá tải bệnh viện… là những vấn đề khiến ngành y tế đau đầu. Bộ đã đề ra 83 tiêu chí đánh giá để các bệnh viện nâng chất lượng.
Theo thống kê của Cục quản lý Khám chữa bệnh, hiện cả nước có 171.100 giường bệnh, trong đó 164.800 giường bệnh ở các cơ sở y tế công lập. Trung bình 1 vạn dân thì có 22,5 giường bệnh. PGS.TS Lương Ngọc Khuê, Cục trưởng Cục quản lý khám chữa bệnh nhận định: “Thời gian qua, công tác khám chữa bệnh đã đạt được một số kết quả, Bộ Y tế đã quyết liệt chỉ đạo, điều hành nhằm nâng cao chất lượng quản lý khám chữa bệnh”.

    Hình ảnh người thầy thuốc trong mắt bệnh nhân còn nhiều "méo mó"
“Tuy nhiên, chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh còn nhiều vấn đề thách thức, cần chấn chỉnh như: Thái độ phục vụ, ứng xử của một bộ phận cán bộ, nhân viên y tế, thời gian, thủ tục khám chữa bệnh còn kéo dài và rườm rà; quản lý hành nghề y tư nhân nhiều địa phương chưa kiểm soát chặt chẽ. Đặc biệt, tình trạng quá tải bệnh viện, vấn đề chất lượng xét nghiệm dẫn đến việc không công nhận kết quả xét nghiệm giữa các bệnh viện, tình trạng lạm dụng thuốc,... đang là thách thức của hệ thống cơ sở y tế”.
Trước tình hình đó, Bộ Y tế đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý chất lượng bệnh viện như: Thông tư về quản lý chất lượng xét nghiệm bệnh viện, quản lý chất lượng bệnh viện; Quyết định về cải tiến quy trình khám bệnh, chữa bệnh ở các phòng khám bệnh, hướng đến sự hài lòng hơn của bệnh nhân về quy trình khám chữa bệnh... Tuy nhiên, kết quả vẫn chưa được như sự kỳ vọng của ngành y tế.
Để cải thiện tình hình trên, trong hai ngày 12 và 13/12, tại TPHCM, Bộ Y tế phối hợp với Dự án Hỗ trợ nâng cao năng lực ngành y tế (do Liên minh Châu Âu tài trợ) tổ chức Diễn đàn Quốc gia về chất lượng bệnh viện lần thứ hai. Diễn đàn nhằm nâng cao nhận thức cho lãnh đạo, cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn ngành y về nâng cao chất lượng chăm sóc y tế và an toàn người bệnh; chia sẻ kinh nghiệm thực hành tốt trong quản lý chất lượng chăm sóc, an toàn bệnh nhân; xây dựng chương trình hành động về quản lý rủi ro trong công tác chẩn đoán và điều trị…

Nâng chất lượng khám chữa bệnh là điều cần thiết trong quá trình hội nhập
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Xuyên, Thứ trưởng Bộ Y tế cho biết, thời gian tới việc quản lý chất lượng bệnh viện sẽ tập trung vào nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh thông qua đào tạo đội ngũ cán bộ, cải thiện cơ sở vật chất và trang thiết bị y tế. Bộ Y tế chỉ đạo và quán triệt các đơn vị giáo dục y đức cho đội ngũ cán bộ, nâng cao tinh thần trách nhiệm, cách ứng xử đối với người bệnh.
Đồng thời, Bộ quyết định áp dụng tiêu chuẩn đánh giá chất lượng ở các cơ sở y tế thông qua 83 tiêu chí về chất lượng bệnh viện vừa được Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến ký quyết định ban hành ngày 3/12/2013. Trên cơ sở đó, các bệnh viện phải phấn đấu để đạt được các tiêu chí bộ đề ra.
Bộ Y tế Việt Nam sẽ nhận được sự hỗ trợ đắc lực từ Liên minh Châu Âu thông qua Dự án hỗ trợ nâng cao năng lực ngành y tế. Trong giai đoạn từ 2007 đến 2013, tổ chức này đã viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam 168 triệu Euro.
Trước khi khởi động giai đoạn mới, bà Bérénice Muraille, Trưởng Ban hợp tác và phát triển của phái đoàn Liên minh Châu Âu cho biết, Liên minh Châu Âu vừa đồng ý hỗ trợ thêm 114 triệu Euro cho ngành y tế Việt Nam từ nay tới năm 2017, nhằm nâng cao năng lực hiện đại hóa việc cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế để bảo đảm người nghèo và cận nghèo có thể được tiếp cận công bằng các dịch vụ y tế có chất lượng, bao gồm ở bệnh viện và các trạm y tế xã.


Chia sẻ bởi
CSKH WLike 0916183300 - 0984236411
Thiết kế website bởi Wlike.vn